• IN TÚI VẢI CANVAS HCM

  • Mã sản phẩm: 43
  • Giá : Liên Hệ
  • Mục in túi vải canvas hcm sẽ đề cập bài viết về môi trường chứng khoán và các định nghĩa.
Thông tin sản phẩm

Sản xuất túi canvas

Xưởng may túi canvas

CÁC LOẠI HÌNH GIAO DỊCH

a, Giao dịch lô lẻ

Để đảm bảo cho thị trường hoạt động thông suốt, các Sở Giao dịch có những quy định riêng đối với việc thực hiện giao dịch lô lẻ, theo đó các giao dịch lô lẻ có thể được xử lý qua hệ thống giao dịch hay các công ty chứng khoán với vai trò tự doanh đảm nhiệm. Lúc đó, các công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải mua hoặc bán các cổ phiếu lẻ khi khách hàng muốn bán hoặc mua.

b, Giao dịch lô lớn

  • Tiêu chí xác định giao dịch lô lớn: Các tiêu chí này được thiết lập thông qua việc xác định quy mô của công ty, tổng khối lượng giao dịch trên thị trường và tính thanh khoản của thị trường.
  • Sự cần thiết của giao dịch lô lớn: Những lệnh có khối lượng lớn sẽ ảnh hưởng khá mạnh đến tình hình giao dịch trên thị trường. Do đó, việc tách biệt hệ thống giao dịch thông thường và giao dịch lô lớn là cần thiết nhằm mục đích tối thiểu hóa những tác động không tốt của các lệnh này đến thị trường.
  • Phương pháp giao dịch lô lớn: :Lô lớn được giao dịch thông qua việc thương lượng giữa người mua và người bán trên thị trường. Hai bên đối tác sẽ quyết định số lượng và giá thực hiện trước khi nộp đơn xin phép giao dịch lô lớn lên Sở Giao Dịch. Sau khi Sở Giao Dịch xem xét và chấp thuận, các giao dịch mới được thực hiện với một mức giá xác định trước, và chỉ nằm trong giới hạn cho phép ( Giá này không làm ảnh hưởng đến giá đóng cửa). Có hai phương pháp giao dịch lô lớn ngoài giờ giao dịch là
  • Giao dịch lô lớn theo báo cáo: Trong đơn gửi Sở Giao dịch, công ty thành viên ghi rõ thông tin về hai bên đối tác và khối lượng thực hiện. Trong trường hợp này, giá thực hiện phụ thuộc vào thời gian lệnh giao dịch lô lớn đến Sở Giao Dịch. Nếu đặt lệnh giao dịch lô lớn trước khi thị trường đóng cửa, giao dịch sẽ được thực hiện tại mức giá đóng cửa.
  • Giao dịch lô lớn ngoài giờ giao dịch: Để thuận lợi cho các nhà đầu tư có giao dịch lô lớn, một số Sở Giao Dịch còn cho phép thực hiện giao dịch lô lớn ngoài thời gian giao dịch thông thường, với điều kiện các bên tham gia phải tuân thủ mọi quy định về giá thực hiện.

HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ CHỨNG KHOÁN

Theo luật chứng khoán của các nước, đăng ký chứng khoán là một quá trình mà theo đó, những chứng khoán phát hành ra công chúng phải được đăng ký với Ủy ban Chứng khoán. Tên của người sở hữu chứng khoán được ghi trong sổ cổ đông của tổ chức phát hành hoặc đại lý đăng ký của tổ chức phát hành. Ngoài ra, một số hoạt động nghiệp vụ không thể tách rời với hoạt động đăng ký chứng khoán là thực hiện quyền cho người sở hữu chứng khoán. Tùy thuộc vào mô hình hoạt động và quy mô phát triển thị trường chứng khoán của mỗi nước mà phạm vi thực hiện quyền cho người sở hữu có thể khác nhau. Nhìn chung, hệ thống đăng ký ở các nước thường đảm bảo các quyền phổ biến cho tổ chức phát hành và người sở hữu như lập danh sách người sở hữu để tiến hành đại hội cổ đông, phân bổ cổ tức, thanh toán lãi trái phiếu và vốn gốc, thực hiện quyền mua cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi...Hệ thống đăng ký có chức năng lưu trữ chứng từ xác nhận quyền sở hữu chứng khoán của nhà đầu tư, cập nhật các chứng từ về quyền sở hữu, phân bổ cổ tức và những khoản thanh toán khác, xử lý các vấn đề quyền liên quan đến chứng khoán, so khớp các chứng từ avf bút toán trên sổ đăng ký...

Chứng khoán được nắm giữ dưới hai hình thức là nắm giữ trực tiếp và nắm giữ gián tiếp

a, Hệ thống nắm giữ trực tiếp: Trong hệ thống nắm giữ trực tiếp, nhà đầu tưu với tư cách là người chủ sở hữu sẽ được ghi tên trong sổ đăng ký hoặc sổ cổ đông của các tổ chức phát hành. Do đó, tổ chức phát hành nắm được số cổ đông của công ty mình qua tài khoản cổ đông của tổ chức phát hành. Đây cũng là tài khoản phản ánh quyền sở hữu của nhà đầu tư

Có hai trường hợp nắm giữ chứng khoán là:

  • Nhà đầu tưu nắm giữ chứng khoán dưới dạng chứng chỉ vật chất ( Ký danh và vô danh)
  • Nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán dưới dạng ghi tên trong các chứng từ, sổ sách ( Chứng khoán ghi sổ) của tổ chức phát hành. Các tài khoản của cổ đông sẽ được tổ chức đăng ký của tổ chức phát hành duy trì và các tổ chức này thực hiện cả ba chức năng của một hệ thống nắm giữ là đăng ký ( Xác nhận sự tồn tại của chứng khoán và những thông tin về người sở hữu dành cho tổ chức phát hành), nắm giữ ( Xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với chứng khoán) và chuyển nhượng ( Xác nhận việc giao hoặc nhận và thanh toán)

b, Hệ thống nắm giữ gián tiếp: Trong hệ thống nắm giữ gián tiếp, nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán qua sổ tài khoản do một hoặc nhiều tổ chức trung gian khác nhau nắm giữ. Người được coi là chủ sở hữu ghi danh của chứng khoán trong tài khoản sổ đăng ký là cấp trung gian đầu tiên nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư. Cac chức năng của hệ thống nắm giữ được nhiều tổ chức khác nhau trong hệ thống phân cấp thực hiện.

Một hệ thống điển hình bao gồm ba cấp tài khoản sau:

  • Các tổ chức lưu ký: Nhà đầu tư ký gửi chứng khoán của mình vào các tổ chức này:
  • Trung tâm lưu ký, các tổ chức lưu ký thành viên của trung tâm lưu ký gửi chứng khoán của khách hàng o trung tâm này
  • Tổ chức đăng ký của tổ chức phát hành, tại đây trung tâm lưu ký đóng vai trò là chủ sở hữu đối với các chứng khoán được các tổ chức lưu ký gửi tại trung tâm lưu ký.

HỆ THỐNG LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN

Trung tâm lưu ký có thể được tổ chức theo ba mô hình như sau:

1. Mô hình quản lý tài khoản thàn viên lưu ký

Đây là mô hình phổ biến va còn được gọi là mô hình quản lý cấp hai. Theo mô hình này, chỉ các thành viên lưu ký được mở tài khoản tại trung tâm lưu ký. Người sở hữu mở tài khoản và ký gửi chứng chỉ chứng khoán của mình tại thành viên lưu ký và thành viên lưu ký tái lưu ký chứng khoán tại trung tâm lưu ký.

2. Mô hình quản lý tài khoản hỗn hợp

Mô hình này cho phép người sở hữu chứng khoán được mở tài khoản và lưu ký chứng khoán tại hai nơi, tại thành viên lưu ký, hoặc trực tiếp tại trung tâm lưu ký. Mô hình này ít phổ biến và thường là biến thể của mô hình đầu tiên

3. Mô hình quản lý trực tiếp tài khoản của nhà đầu tư

Mô hình này còn có tên gọi là mô hình quản lý một cấp và được cho là có khả năng đáp ứng các dịch vụ mua bán chứng khoán qua Internet. Theo mô hình này, trung tâm lưu ký trở thành một đầu mối thông tin và bằng hệ thống của mình, trung tâm lưu ký có thể giúp Ủy ban Chứng khoán thực hiện những quy định về quản lý bán khống mua bán nội gián...một cách chặt chẽ. Tài khoản của nhà đầu tư được ghi Có và ghi Nợ trực tiếp tại trung tâm lưu ký. Các thành viên lưu ký đóng vai trò là người theo dõi tài khoản cho nhà đầu tư. Các tài khoản này phải so khớp với tài khoản của nhà đầu tư mở tại trung tâm lưu ký. Vào bất cứ thời điểm nào, trung tâm lưu ký cũng có thể đáp ứng yêu cầu cung cấp danh sách các cổ đông lưu ký chứng khoán của những tổ chức phát hành. Số lượng trung tâm lưu ký ở mỗi quốc gia không giống nhau. Có quốc gia chỉ xây dựng một trung tâm lưu ký duy nhất trên toàn lãnh thổ của mình, nhưng cũng có nhiều trường hợp nhiều trung tâm lưu ký cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, cũng như yêu cầu tập trung hóa nên dần dần chỉ một trung tâm lưu ký là đủ đáp ứng nhu cầu của tất cả các chứng khoán niêm yết, các chứng khoán trên thị trường OTC, và cả các công cụ tài chính được mua bán khác. Việc tồn tại duy nhất một trung tâm lưu ký mang lại nhiều lợi ích như : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ phải quản lý và nhận báo cáo từ một trung tâm lưu ký, việc đề ra và áp dụng các chính sách, các quyết định thực hiện nhanh chóng và thống nhất, các hành vi lưu ký cũng chỉ phải thực hiện với một trung tâm lưu ký, đối với các giao dịch chứng khoán thực hiện trong ngày, thành viên lưu ký chỉ cần theo dõi một báo cáo thanh toán tổng hợp, thành viên lưu ký chỉ cần kết nối với một mạng máy tính đến trung tâm lưu ký, nhờ đó mà mọi việc trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn...

Trung tâm lưu ký đảm nhận một số chức năng chính là:

  • Bù trừ: Một số trung tâm lưu ký đảm nhiệm luôn vai trò của một trung tâm bù trừ. Ngoài ra, cũng có trường hợp công việc bù trừ được thực hiện bởi các trung tâm bù trừ riêng biệt, hoặc do Sở Giao Dịch đảm nhận, 
  • Lưu giữ tâp trung chứng khoán, bao gồm cả tiếp nhận chứng chỉ chứng khoán và thực hiện việc rút chứng khoán.
  • Tiến hành thanh toán, thực hiện chuyển khoản, cầm cố thông qua các bút toán ghi sổ.
  • Thực hiện quyền cho các chứng khoán được lưu ký tại trung tâm lưu ký.

Ngoài ra, trung tâm lưu ký còn thực hiện các dịch vụ khác như, nhận lưu ký tập trung chứng khoán, bao gồm các chứng chỉ chứng khoán và chứng khoán ghi sổ, thực hiện thanh toán chứng khoán, thực hiện cầm cố chứng khoán, thực hiện yêu cầu rút chứng chỉ chứng khoán, thực hiện quyền của người sở hữu  chứng khoán.

HỆ THỐNG THANH TOÁN BÙ TRỪ

Hệ thống thanh toán bù trừ là một bộ phận cấu thành của thị trường chứng khoán, đảm nhận chức năng bù trù và thanh toán cho các giao dịch được thực hiện trên thị trường. Bù trừ là dựa trên kết quả giao dịch để tính toán theo một số phưng pháp nhất định nhằm đưa ra số lượng chứng khoán và tiền mà các bên tham gia giao dịch sẽ được nhận và phải trả, còn thanh toán là giao nhận chứng khoán cho bên mua và tiền cho bên bán. Việc bù trừ được thanh toán theo nguyên tắc.

  • Thực hiện bù trừ theo kết quả giao dịch
  • Thực hiện thanh toán theo kết quả bù trừ
  • Đảm bảo việc giao dịch chứng khoán đồng thời với việc thanh toán tiền.

Một quy trình nghiệp vụ thanh toán bù trừ hoàn chỉnh bao gồm các công đoạn sau đây:

a, Đối chiếu và xác nhận giao dịch: Là việc các công ty chứng khoán và nhà đầu tư kiểm tra và đối chiếu các kết quả giao dịch với nhau. Đây là bước không thể thiếu trong quy trình thanh toán bù trừ, vì các công ty chứng khoán và nhà đầu tư chỉ thanh toán các giao dịch mà họ thực hiện. Khách hàng có thể đặt lệnh thông qua điện thoại, fax, máy tính...Công ty chứng khoán, vì một lý do nào đó, có thể thực hiện sai các chi tiết trong lệnh của khách hàng. Việc đối chiếu và xác nhận giao dịch sẽ giúp hai bên phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện lệnh để đưa ra hình thức giải quyết phù hợp. Việc xử lý luôn dựa trên nguyên tắc bên có lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm.

b, Bù trừ: Trung tâm thanh toán bù trừ cho các giao dịch được thực hiện trên thị trường. Công đoạn này nhằm giảm thiểu số tiền và chứng khoán phải thanh toán giữa các bên tham gia thị trường. Tùy theo tính chất của giao dịch và thực hiện hoạt động của các thị trường chứng khoán mà phương thức bù trừ có thể là thanh toán từng giao dịch, bù trừ song phương hoặc đa phương. Thông thường, vào cuối mỗi ngày giao dịch, kết quả giao dịch sẽ được chuyển sang trung tâm thanh toán bù trừ. Trung tâm này có thể là bộ phận của Sở Giao Dịch Chứng Khoán hoặc một công ty độc lập nằm ngoài Sở Giao Dịch. Dù dưới hình thức nào, trung tâm vẫn đảm nhiệm chức năng chính là bù trừ giao dịch chứng khoán. Khi đã có kết quả bù trừ, trung tâm thanh toán bù trừ sẽ gửi kết quả bù trừ cho các thành viên bù trừ. Hình thức gửi có thể là giao trực tiếp, bằng fax, qua mạng máy tính...

c, Thực hiện chuyến tiền và chứng khoán: Khi đến hạn thanh toán theo quy định, các thành viên lưu ký gửi cho trung tâm yêu cầu cầu chuyển tiền/chứng khoán vào tài khoản thanh toán bù trừ của trung tâm. Yêu cầu chuyển khoản có thể được thực hiện dưới hình thức vật chất hoặc thông qua mạng máy tính.

d, Thông báo kết quả chuyển tiền và chứng khoán:  Trung tâm thanh toán bù trừ thông báo cho các thành viên lưu ký rằng đã thực hiện xong việc chuyển tiền từ tài khoản người bán sang tài khoản người mua. Dựa trên kết quả này, thành viên lưu ký sẽ thông báo trực tiếp cho nhà đầu tư. Sau khi tham khỏa kinh nghiệm của các nước và xem xét thực trạng hệ thống thanh toán của Việt Nam, Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước đã quyết định áp dụng chu kỳ thanh toán t+4. Khoảng thời gian này dai hơn so với những nước có thị trường chứng khoán phát triển do một số công đoạn trong quy trình giao dịch và thanh toán bù trừ ở nước ta còn phải làm thủ công. Chu kỳ kéo dài này còn cho phép các thành viên lưu ký, ngân hàng chỉ định thanh toán và Trung tâm Giao Dịch Chứng Khoán có đủ thời gian hoàn tất các thủ tục cần thiết cho việc thanh toán, như đối chiếu xác nhận giao dịch, thực hiện bù trừ, kiểm tra và đối chiếu giữa Trung tâm và ngân hàng chỉ định thanh toán, ra lệnh và thực hiện chuyển khoản, gửi giấy báo nợ/có...Bên cạnh đó, do đặc thù hệ thống kế toán Việt Nam nên hệ thống tài khoản sử dụng trong thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán cũng mang những nét riêng.

Các thành viên lưu ký phải mở những tài khoản sau:

  • Hệ thống tài khoản tiền: Tài khoản tiền gửi giao dịch chứng khoán được sử dụng để ký quỹ mua chứng khoán. Tài khoản này gồm hai tài khoản: Của thành viên lưu ký, Của khách hàng thuộc thành viên lưu ký

Tài khoản tiền gửi thanh toán bù trừ. Tài khoản tiền gửi tạm giữ.

  • Hệ thống tài khoản chứng khoán: Tài khoản chứng khoán giao dịch gồm hai tài khoản là: Tài khoản của thành viên lưu ký: Tài khoản của khách hàng thuộc thành viên lưu ký. Tài khoản chứng khoán tạm ngưng giao dịch gồm hai tài khoản: Tài khoản của thành viên lưu ký, Tài khoản của khách hàng thuộc thành viên lưu ký
  • Tài khoản chứng khoán cầm cố gồm hai tài khoản: Của thành viên lưu ký, của khách hàng thuộc thành viên lưu ký.

Tài khoản chứng khoán tạm giữ. Tài khoản thanh toán bù trừ. Tài khoản chứng khoán chờ rút gồm hai tài khoản: Của thành viên lưu ký. Của khách hàng thuộc thành viên lưu ký. Tài khoản chứng khoán chờ niêm yết gồm hai tài khoản của thành viên lưu ký.

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG

Thị trường chứng khoán phi tập trung được hiểu là tất cả mọi giao dịch mua bán chứng khoán diễn ra bên ngoài Sở Giao Dịch Chứng khoán ( Thị trường chứng khoán tập trung). Thị trường chứng khoán phi tập trung bao gồm thị trường OTC ( Over the counter) và thị trường thứ ba.

THỊ TRƯỜNG OTC

Khác với thị trường chứng khoán tập trung ( Sở giao dịch Chứng Khoán) là nơi các nhà môi giới thực hiện những cuộc đấu giá giá mua - bán chứng khoán cho khách hàng của họ, thị trường OTC, thực chất là thị trường thương lượng, mà tại đó những nhà kinh doanh chứng khoán thuộc các công ty môi giới chứng khoán thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống điện thoại. Ngày nay, khi công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi vào thị trường chứng khoán, tất cả các lệnh đều được thực hiện qua hệ thống máy tính. Thị trường OTC không được đặt tại một vị trí hay trung tâm nào cả, bởi nó bao gồm các công ty môi giới thành viên ( Thành viên của thị trường OTC) trong khắp cả nước. Thành viên của thị trường OTC là các công ty kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp để thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình. Họ cũng thực hiện các giao dịch cho khách hàng, với tư cách là nhà môi giới để hưởng hoa hồng, nhưng số lượng các giao dịch này không nhiều. Các giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường OTC là giao dịch lô lớn ( Giao dịch khối). Mỗi công ty chứng khoán thành viên thuộc thị trường OTC chuyên kinh doanh một số loại chứng khoán riêng biệt và họ thường xuyên nắm giữ một số lượng nhất định các loại chứng khoán này. Trong giao dịch, các công ty chủ động ra giá, giá cao nhất sẵn sàng mua vào và giá thấp nhất sẵn sàng bán ra. Họ chính là những người ra lệnh và thực hiện các lệnh giao dịch. Họ không phụ thuộc vào lệnh đặt hàng của khách hàng. Giới chuyên môn gọi họ bằng danh từ " Những người giao dịch", những người tạo lập thị trường. Các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC khác với các loại chứng khoán giao dịch trên Sở Giao DỊch chứng khoán giao dịch trên Sở Giao Dịch chứng khoán phải đạt được những điều kiện tối thiểu về vốn của công ty phát hành, tổng số chứng khoán do công chúng nắm giữ, lợi nhuận hàng năm của công ty phải đạt được một tỷ lệ nhất định...trong khi các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi các tiêu chuẩn đó. Điều kiện duy nhất là loại chững khoán đó đã được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại một Sở Giao Dịch Chứng khoán nào cả. Có rất nhiều loại chứng khoán khác nhau được giao dịch trên thị trường OTC như cổ phiếu của các ông ty cổ phần, quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương. Hầu hết các loại chứng khoán mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị trường OTC. Thông thường, một loại chứng khoán mới ban đầu được phát hành trên thị trường OTC, rồi sau đó mới xin đăng ký tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán. Giao dịch của thị trường OTC được gói gọn trong việc ra giá của các công ty chứng khoán. Trong mỗi phiên giao dịch, công ty chứng khoán ra giá cao nhất sẵn sàng mua vào và giá thấp nhất sẵn sàng bán ra, và các bên có thể thương lượng để đạt tới sự so khớp. Khi giá mua cao nhất của công ty này khớp với giá bán thấp nhất của công ty kia, việc mua bán sẽ được thực hiện và giao dịch kết thúc.

1. Cách ra giá trên thị trường OTC

Có ba cách ra giá là:

Ra giá chắc chắn

Là giá sẵn sàng mua - bán với số lượng đã được công bố, và kiên quyết thực hiện theo giá đó. Ví dụ: Công ty chứng khoán A ra giá X 50.000 - 55.000: 500x300, nghĩa là công ty A sẵn sàng mua 500 cổ phiếu X với giá 50.000đ và bán 300 cổ phiếu X với giá 55.000đ. Nếu có một yết giá của công ty đối tác phù hợp cả về số lượng và giá cả thì giao dịch sẽ được thực hiện. Trong trường hợp một trong hai yếu tố còn chưa phù hợp ( Chưa khớp) , như giá hoặc số lượng chứng khoán mua  hoặc bán, thì đôi bên cần thương lượng thêm ( Nếu đã khớp về giá thì thương lượng về số lượng, hoặc nếu đã khớp về số lượng thì thương lượng về giá) qua điện thoại để đi đến thống nhất.

Ra giá phụ thuộc

Là cách ra giá trên cơ sở, hoặc có sự tham khảo giá đã ra, hoặc giá sẽ ra, của bên đối tác giao dịch. Ví dụ công ty A ra giá X50.000 - 55.000: 500x300. Công ty B muốn mua được 200 cổ phiếu X thì phải xem giá bán của công ty A ( Phụ thuộc giá bán của công ty A).

Ra giá cố gắng đạt được

Là cách ra giá chỉ thực hiện đối với những loại chứng khoán ít được giao dịch trên thị trường. Vì là loại chứng khoán ít được giao dịch nên các công ty chứng khoán trước khi ra giá phải thu thập thông tin, tập hợp các nhu cầu giao dịch đối với loại chứng khoán đó, rồi mới tìm cách thương lượng để giao dịch được thực hiện.

2. Thực hiện mua bán chứng khoán trên thị trường OTC.

Giả sử một nhà đầu tư muốn mua 100 cổ phiếu thường của công ty VIN đang được giao dịch trên thị trường OTC, anh ta sẽ gọi điện hoặc truyền lệnh qua máy tính cho công ty chứng khoán A - Một công ty thành viên của thị trường OTC mà anh ta tin tưởng. Anh ta đặt lệnh mua 100 cổ phiếu VIN với giá thị trường, nhưng công ty A lại không nắm giữ loại cổ phiếu VIN này nên họ không thể lập tức thực hiện lệnh. Khi đó, công ty A phải liên lạc với công ty chứng khoán đang nắm giữ loại cổ phiếu VIN ( Tức là những công ty có giao dịch với loại cổ phiếu VIN) chẳng hạn công ty B, C, D. Công ty A nhận được thông tin: Công ty B yết giá cổ phiếu VIN 35.000đ - 38.000đ, nghĩa là công ty B sẵn sàng mua cổ phiếu VIN với giá 35.000đ và sẵn sàng bán với giá 38.000đ, giá yết của công ty C là VIN 34.000đ - 39.000đ. Yết giá của công ty D là 35.000đ - 39.000đ. Tổng hợp những thông tin trên công ty chứng khoán A nhận thấy có thể mua cổ phiếu VIN với công ty B vì công ty B có giá chào bán thấp nhất ( 38.000đ). Cuối cùng, nhà đầu tư kia nhận được điện thoại từ công ty A thông báo rằng công ty A sẽ bán cho anh ta 100 cổ phiếu VIN với giá 39.000đ, tức là công ty A đã cộng thêm khoản chênh lệch 1.000đ tiền lời của mình. Chênh lệch giá mua bán chứng khoán trên thị trường OTC thường cao hơn so với thị trường tập trung.

3. Yết giá công khai trên thị trường OTC

Tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán, việc yết giá công khai được thực hiện hết sức dễ dàng. Giá được thông báo trên bảng điện tử ( Giá mở cửa, giá mới nhất và số lượng chứng khoán giao dịch). Các công ty môi giới thành viên và chi nhánh của họ cũng nhận được những thông tin đó trên màn hình video hoặc bảng điện tử. Trong khi đó, trên thị trường OTC, thông tin chủ yếu được công bố trên màn hình yết giá tự động của các công ty thành viên. Hệ thống màn hình của các công ty chứng khoán thành viên sẽ cho nhà đầu tư biết giá thị trường hiện tại của các loại chứng khoán đang giao dịch trên thị trường  OTC.

THỊ TRƯỜNG THỨ BA

Khi nhắc đến thị trường chứng khoán, người ta thường nghĩ đến thị trường chứng khoán tập trung ( Sở Giao Dịch Chứng Khoán) và thị trường OTC. chứ ít ai nghĩ đến thị trường chứng khoán thứ ba. Thế nhưng đó lại là loại thị trường xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán thứ ba là hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứng khoán diễn ra tại bất kỳ đâu và vào bất kỳ thời điểm nào, có thể thông qua các nhà môi giới hoặc do chính người chủ sở hữu chứng khoán thực hiện. Tất cả các loại chứng khoán được phép phát hành đều có thể giao dịch trên thị trường thứ ba, kể cả các loại chứng khoán đã được đăng ký và giao dịch trên thị trường tập trung và thị trường OTC. Trong nhiều trường hợp, thị trường thứ ba góp phần không nhỏ vào việc ổn định giá cả của thị trường tập trung. Ví dụ tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán, chuyên gia chứng khoán nhận được một lệnh đặt mua 50.000 cổ phiếu X theo giá thị trường. Một khi chuyên gia này thực hiện lệnh đó, thị trường sẽ bị đảo lộn bởi giá cổ phiếu X tăng vọt đến mức khó đoán do lượng cầu quá  lớn. Vì vậy, chuyên gia này phải chuyển lệnh đặt hàng sang hình thức giao dịch khối, tại thị trường thứ ba. Đồng thời hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện giao dịch đó. Thị trường chứng khoán thứ ba là cơ sở hình thành nên thị trường tập trung, rồi phát triển lên thành thị trường OTC. Có thể nói ngay từ khi chưa xuất hiện thị trường chứng khoán tập trung và thị trường OTC thì đã tồn tại thị trường chứng khoán thứ ba. Cho đến nay và kể cả sau này, mặc dù thị trường chứng khoán tập trung và phi tập trung có phương pháp tổ chức và hình thức giao dịch tiên tiến, nhưng thị trường chứng khoán thứ ba vẫn phải tồn tại. 

Giao dịch khối là giao dịch của những lệnh có số lượng cổ phiếu lớn. Nếu trung tâm giao dịch thực hiện lệnh này thì sẽ xảy ra tình trạng chênh lệch giữa cung và cầu đối với loại chứng khoán đó.Vì thế, người ta thường phải dành riêng một khu vực khác, hoặc thông qua các cuộc thương lượng trực tiếp để thực hiện các lệnh tương tự. Ở Mỹ, giao dịch khối là những giao dịch có từ 10.000 cổ phiếu trở lên và được diễn ra một cách lặng lẽ thông qua việc thỏa thuận giữa các bên mua bán, có thể nằm trong hoặc ngoài sàn giao dịch ( Thị trường thứ ba). Các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, ngân hàng đầu tư, công ty tài chính thường thực hiện các giao dịch khối.

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

Thị trường chứng khoán không phải là nơi người mua và người bán trực tiếp gặp gỡ để trao đổi, thỏa thuận với nhau, mà toàn bộ giao dịch đều do các nhà môi giới thực hiện theo nguyên tắc trung gian. Thông thường, các nhà môi giới không hoạt động với tư cách cá nhân độc lập, mà họ phải tổ chức thành từng công ty gọi là công ty chứng khoán. Ở đó, các cá nhân dù trong lĩnh vực nào, cũng đều hoạt động dưới danh nghĩa là hoạt động của công ty. Tùy theo luật pháp của từng nước mà các công ty chứng khoán được thàn lập dưới hình thức công ty cổ phần, công ty hợp doanh, công ty tư nhân. Các công ty này phải có giấy phép hoạt động do một cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp và được kết nạp là thành viên của sở Giao Dịch Chứng Khoán. Nếu không, công ty đó phải hoạt động theo hình thức môi giới 2 đô-la hoặc là thành viên của thị trường chứng khoán bán tập trung

NGHIỆP VỤ CỦA CÔNG TY MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

Tiềm năng vốn ( Dưới nhiều dạng ) trong dân chúng là rất lớn, trong khi các doanh nghiệp cổ phần lại gặp vô số khó khăn trong quá trình huy động vốn để mở rộng quy mô. Nguyên nhân có thể do người có vốn chưa thấy được lợi ích của việc đầu tư qua cổ phiếu thông qua các giao dịch mua bán chứng khoán. Vì thế, cần coi các tổ chức môi giới chứng khoán là những định chế tài chính trung gian cần thiết trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, khi doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, họ sẽ không tự bán số chứng khoán mà họ phát hành, cũng như họ không thể làm tốt công việc đó, bởi lẽ họ không có bộ máy nhân viên có trình độ nghiệp vụ và cũng không có chuyên môn trong lĩnh vực mua - bán chứng khoán. Cần phải có những người mua bán chứng khoán chuyên nghiệp làm việc này thay họ. Những người đó, không phải ai khác, mà chính là công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp. Các nghiệp vụ cơ bản của một công ty chứng khoán gồm có

  • Mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng ( Môi giới trung gian)
  • Mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của chính mình để hưởng lợi từ sự chênh lệch giá ( Thương gia chứng khoán)
  • Phân tích, đánh giá các loại chứng khoán, tư vấn sao cho nhà đầu tư có thể thực hiện các giao dịch mua - bán chứng khoán một cách hiệu quả nhất ( Tư vấn đầu tư chứng khoán)
  • Trung gian phát hành và bão lãnh ( Bảo đảm) phát hành chứng khoán cho đơn vị phát hành.
  • Là người quản lý chứng khoán cho khách hàng và thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến chứng khoán như thu lãi trái phiếu hoặc cổ tức, chuyển quyền sở hữu chứng khoán khi có sự chuyển nhượng...Trước năm 1929, các ngân hàng là những tổ chức kinh doanh chứng khoán tích cực nhất. Nhưng từ sau " Ngày thứ Năm đen tối" - sự kiện được xem như thời điểm bắt đầu của cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới - người ta quy kết rằng sự lạm dụng quá mức của các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán chính là nguyên nhân trực tiếp đưa đến tình trạng này. Đạo luật Glass Steagul ra đời ngay sau đó đã cấm các ngân hàng thương mại kinh doanh chứng khoán. Để tránh quy định khắt khe của đạo luật này, các ngân hàng đã thành lập công ty con trực thuộc để kinh doanh chứng khoán. Thế nhưng riêng tại Đức, cho đến nay, hoạt động chứng khoán vẫn không tách ròi khỏi hoạt động ngân hàng. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng trên thế giới đều mở rộng hoạt động ra nhiều lĩnh vực, có ngân hàng vừa thực hiện nghiệp vụ ngân hàng vừa cung cấp dịch vụ liên quan đến chứng khoán, bảo hiểm và còn một số hoạt động tài chính khác thông qua hệ thống các công ty con trực thuộc. Kinh nghiệm thực tế từ hoạt động của các ngân hàng thương mại trên thế giới cho thấy ngân hàng thương mại có thể sử dụng từ 10 - 20% vốn ngắn hạn vào mục tiêu đầu tư dài hạn. Với khả năng chuyển đổi kỳ hạn của các sản phẩm tài chính ( Ngắn hạn thành dài hạn ), ngân hàng thương mại là một nhân tố không thể thiếu trên thị trường chứng khoán. Trong khi các ngân hàng ở nước ta nói chung còn nhỏ bé, đặc biệt là lượng vốn dài hạn rất thấp, lại chủ yếu chú trọng vào lĩnh vực tín dụng ngắn hạn, mà thị trường chứng khoán lại thuộc lĩnh vực vốn dài hạn, nên muốn kinh doanh chứng khoán, các ngân hàng thương mại cần phải tách một phần vốn tự có ra để thành lập công ty  chứng khoán trực thuộc. Trước mắt, các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể thực hiện việc bão lãnh phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp nhà nước đang tiến hành cổ phần hóa bằng cách hỗ trợ phát hành trái phiếu doanh nghiệp và môi giới mua bán chứng khoán cho nhà đầu tư. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường vai trò kiểm soát việc sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại và chỉ cho phép các ngân hàng này sử dụng một phần vốn hoạt động vào công việc kinh doanh chứng khoán. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia chứng khoán, thị trường chứng khoán phải có khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, do đó có thể cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu, Việc kết nạp thành viên là công ty chứng khoán nước ngoài nên thực hiện từng bước và cần tính toán lộ trình sao cho hợp lý nhất. Bước đầu, chúng ta chỉ nên chọn một số công ty lớn, có uy tín trên trường quốc tế, đồng thời là các công ty  đến từ những quốc gia đã đầu tư và có khả năng đầu tư lớn vào Việt Nam. Trong khi các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp phát triển như các nước Tây Âu,  Bắc Âu, Hông Kong, Singapore và nhiều nước khác thường không có sự phân biệt giữa công ty chứng khoán trong nước hay nước ngoài, thì thị trường chứng khoán Thái Lan, Hàn Quốc và một vài nước khác...không cho phép công ty chứng khoán nước ngoài tham gia. Nhà đầu tư nước ngoài muốn mua chứng khoán tại các thị trường này phải thông qua công ty chứng khoán trong nước, và phần lớn các vụ giao dịch được thực hiện thông qua hệ thống quỹ đầu tư tập thể. Trong thời kỳ này, việc tổ chức các công ty chứng khoán theo hình thức liên doanh giữa một bên là một ngân hàng hoặc công ty tài chính Việt Nam và bên kia là một công ty chứng khoán nước ngoài sẽ là thích hợp nhất. Lý do Việt Nam cần học hỏi các kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn về lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, còn phía nước ngoài lại muốn tìm hiểu về thực tế kinh doanh tại Việt Nam. Mối liên kết này sẽ có lợi cho cả hai bên. Muốn Việt Nam trở thành một trung tâm tài chính của khu vực hoặc tiểu khu vực, chúng ta phải mạnh dạn mở cửa thị trường chứng khoán để cho nhiều công ty chứng khoán nước ngoài vào tham gia với tư cách là thành viên của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này đang phải đặt mục tiêu thu hút vốn đầu tư trong nước là nhiệm vụ hàng đầu, sau đó mới là thu hút vốn nước ngoài. Do vậy chúng ta không thể để công ty chứng khoán nước ngoài hoặc liên doanh nước ngoài chiếm tỷ lệ cao hơn số công ty chứng khoán trong nước, cũng như công ty chứng khoán nước ngoài không được tham gia hội đồng quản trị. Sau một thời gian hoạt động, khi thị trường chứng khoán đã dần đi vào ổn định, lúc đó tùy theo tình hình kinh tế mà nhà nước sẽ có những bước điều chỉnh phù hợp. Công ty chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hoạch toán kinh tế độc lập. lượng vốn tự có tối thiểu của một công ty chứng khoán sẽ do Ủy ban Chứng khoán nhà Nước quy định dựa trên các nghiệp vụ hoạt động cụ thể của từng công ty. Nói chung, nếu một công ty thực hiện cả bốn nghiệp vụ ( Bảo lãnh phát hành, môi giới trung gian, tư vấn đầu tư, mua bán chứng khoán bằng vốn của mình) thì vốn điều lệ đương nhiên phải lớn hơn so với những công ty chỉ hoạt động về môi giới trung gian hoặc tư vấn đầu tư. Công ty liên doanh phải có số vốn lớn hơn công ty trong nước. Công ty nước ngoài phải có vốn lớn hơn công ty liên doanh. Cụ thể là công ty môi giới chứng khoán trong nước nếu thực hiện đầy đủ cả bốn loại nghiệp vụ thì vốn pháp định tối thiểu ban đầu phải có 20 - 50 tỷ đồng còn nếu thực hiện nghiệp vụ môi giới trung gian và tư vấn đầu tư thì chỉ cần có 500 triệu đến 1 đồng. Công ty chứng khoán liên doanh hoặc công ty nước ngoài thì yêu cầu về vốn pháp định tối thiểu là phải có 10 -15 triệu đôla Mỹ. Ủy ban chứng khoán  Nhà nước là cơ quan duy nhất có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán  tại Việt Nam, kể cả đối với công ty chứng khoán nước ngoài và công ty liên doanh nước ngoài. Pháp luật nghiêm cấm các cá nhân hoặc tổ chức tự ý kinh doanh chứng khoán tự thị trường chứng khoán Việt Nam mà không có giấy phép hoạt động do Ủy ban chứng khoán Nhà nược Việt Nam cấp phép hoạt động. Các công ty chứng khoán được phép triển khai một, một vài hoặc cả bốn loại nghiệp vụ nói trên, tùy thuộc vào khả năng về nhân lực, vốn và mặt bằng văn phòng giao dịch của công ty. Đặc điểm của thị trường chứng khoán là nhà đầu tư phần lớn là công chúng nên số lượng nhà đầu tư sẽ rất đông. Vì vậy, một yêu cầu có tính bắt buộc đối với công ty môi giới chứng khoán là phải có mặt bằng đủ rộng rãi ở múc cần thiết để thuận lợi cho khách hàng ra vào giao dịch và theo dõi thông tin thị trường). Các công ty môi giới chứng khoán hoạt động hoàn toàn theo sự ủy thác của khách hàng, Khách hàng có thể thu về những khoản lợi nhuận lớn, nhưng cũng có thể bị thua lỗ. Dù khách hàng lời hay lỗ, theo quy định của pháp luật, các công ty vẫn được quyền thu một khoản hoa hồng ( Dao động trong khoảng từ 0,1 - 0,15% khối lượng giao dịch). Về mặt pháp lý, công ty môi giới không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong các hoạt động mua bán cho chính mình, công ty sẽ tự tính toán để có được chỉ số chênh lệch dương (+) giữa giá bán và giá mua. Để tránh những xung đột về quyền lợi giữa hai nghiệp vụ môi giới và tự doanh ( Hoạt động cho chính mình), thông thường các nước đều bắt buộc công ty chứng khoán phải tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ này ở hai phòng riêng biệt. Một số nước còn đòi hỏi nghiệp vụ tự kinh doanh chứng khoán phải do một công ty riêng biệt thực hiện, chứ không phải là một nghiệp vụ trong công ty môi giới chứng khoán. Việc bão lãnh phát hành là hoạt động có tính bắt buộc đối với các công ty phát hành. Công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ này thường được yêu cầu mua một số lượng nhất định loại chứng khoán mới phát hành đó. Ủy ban chứng khoán sẽ cấp các giấy phép riêng cho từng hoạt động nghiệp vụ, hoặc có thể gộp chung trong một giấy phép riêng cho từng hoạt động nghiệp vụ, hoặc có thể gộp chung trong một giấy phép và ghi rõ loại nghiệp vụ được hoạt động. Nếu công ty hội đủ các điều kiện cần thiết theo luật định. Ngoài những nghiệp vụ nói trên, công ty môi giới chứng khoán còn thực hiện nhiều nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh chứng khoán như quản lý chứng khoán, thu nhận cổ tức, tài trợ vốn hoặc chứng khoán cho các nhà kinh doanh chứng khoán. Để thực hiện được các nghiệp vụ này, công ty môi giới chứng khoán phải mở cho khách hàng một tài khoản chứng khoán tại công ty, đồng thời mở cho khách hàng một tài khoản chứng khoán tại công ty, đồng thời mở cho khách hàng một hoặc một số tài khoản tiền mặt tại ngâng hàng do khách hàng hàng lựa chọn, hoặc do công ty môi giới lựa chọn và được khách hàng đồng ý. Việc mở tài khoản chứng khoán tại công ty môi giới cũng tương tự như việc mở tài khoản tại ngân hàng, có khác chăng là tài khoản chứng khoán dùng để quản lý số chứng khoán và phản ánh các giao dịch kinh doanh chứng khoán của khách hàng. Nói chung, mỗi khách hàng có thể mở một hay nhiều tài khoản chứng khoán, tùy thuộc vào số lượng các loại chứng khoán của khách hàng, bởi mỗi tài khoản chỉ được sử dụng cho một loại chứng khoán. Khi kết thúc mỗi giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứng khoán của khách hàng, công ty môi giới chứng khoán đều thực hiện việc thanh toán vốn thông qua tài khoản tiền mặt của khách hàng tại ngân hàng. Khách hàng có thể mua hoặc bán bất kỳ loại chứng khoán nào trên cơ sở tài khoản tiền mặt. Công ty môi giới chứng khoán cũng có thể ứng trước vốn các khách hàng mua hoặc ứng trước chứng khoán cho khách hàng bán. Trong trường hợp này, khách hàng phải mở thêm tài khoản bảo chứng và tài khoản bán khống. Tài khoản bảo chứng và tài khoản bán khống này sẽ được sử dụng khi khách hàng muốn vay mượn để mua bán chứng khoán. Tất nhiên, trước đó khách hàng cần ký quỹ một số vốn nhất định, tối thiểu là một nửa giá trị của số chứng khoán mua và khách hàng phải dùng chính số chứng khoán đã mua để thế chấp cho khoản vay đó. Tài khoản tiền mặt và tài khoản bảo chứng đều phải được thanh toán theo đúng thời gian quyết định của thị trường như t+2, t+3, t+4, t+5... tức sẽ là thanh toán xong sau hai, ba, bốn hoặc năm ngày kể từ ngày giao dịch tùy theo quy định của mỗi nước. Trong những năm đầu, Việt Nam mặc nhiên công nhận các công ty chứng khoán đã có giấy phép hoạt động do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép là thành viên của Sở Giao Dịch chứng khoán. Tuy nhiên, các công ty chứng khoán muốn là thành viên của Sở Giao Dịch Chứng khoán phải có đơn xin gia nhập, và công ty chứng khoán thành viên phải đóng phí thành viên ( Có phí ban đầu và phí hàng năm). Phí ban đầu có thể có ba mức riêng biệt đối với công ty chứng khoán trong nước, công ty chứng khoán liên doanh, và công ty chứng khoán nước ngoài. Phí hàng năm có thể xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) trên vốn hoạt động của từng công ty. Ngoài ra, các công ty chứng khoán phải ký quỹ một số vốn nhất định để làm cơ sở thực hiện các nghĩa vụ pháp lý khi cần thiết. Mức ký quỹ do Ủy ban chứng khoán Nhà nước quy định tùy thuộc vào nghiệp vụ kinh doanh và vốn pháp định của công ty theo giấy phép, cũng như số lượng nhà môi giới của công ty. Tiền ký quỹ ( Không được hưởng lãi) do Sở Giao Dịch chứng khoán quản lý. Tiền ký quỹ cũng có thể thực hiện một phần ( Không quá 50%) bằng cam kết bảo lãnh của ngân hàng. Sở Giao Dịch chứng khoán của Việt Nam hiện đã có hai sàn giao dịch chủ yếu là sàn giao dịch TP.HCM và Hà Nội. Mỗi công ty chứng khoán được cử một số nhân viên môi giới hoạt động tại các sàn giao dịch gọi là môi giới giao dịch. Chỉ những môi giới giao dịch đã đăng ký mới được hoạt động tại sàn giao dịch.

Bài viết được tiếp tục theo link " In logo túi vải "

  • ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

In túi vải canvas hcm 

Sản phẩm khác

IN LOGO TÚI VẢI

Giá: Liên hệ

Túi vải canvas

Giá: Liên hệ

Vải bố canvas

Giá: Liên hệ

Đăng ký đặt hàng